• 9
  • 8
  • 7
  • 6
  • 5
  • 4
  • 3
  • 2
  • 1
3505756
LƯỢT TRUY CẬP
 
Nghiên cứu giá trị của phương pháp nhìn hệ tĩnh mạch ngón tay trỏ của y học cổ truyền để chẩn đoán mức độ nhiễm khuẩn hô hấp cấp ở trẻ em từ sơ sinh đên 3 tuổi
DHYDHue - 17/04/2008 15:26:18
Trần Văn Hòa, Trần Hữu Dàng, Đoàn Văn Minh
Summary
Observing the Venae digitales Palmares’s signs to diagnose and to take prognosis in children is a current procedure in the oriental traditional medicine. In order to determine the value of this method to diagnose the level of acute respiratory infection in the children, a cross study was performed by clinical observation 328 children from the newborn to 3 years old, including: 146 healthy children and 189 acute respiratory infected children from mild to serious disease. The results are as follows : The group of healthy children: 73,3% of form no branches, 94,5% of length at position from the first phalanx on the forefinger to down, 93,1% is shallow and faded color (pink and violet). The mild ill children 61,2% form have one branch, 82,1% length at 1/2 down of the second phalanx of the forefinger, 94% is shallow, 91% light violet color. In the serious ill children 100% form are one branch or multi-branches, 70% - 100% of length at position from 1/2 up of the second phalanx to the third phalanx of the forefinger, the pulse may be shallow or deep and 100% have the dark color (blue-violet or black-violet). There are the correlation between the level of the disease and length (r = 0,77; P< 0,01), and the appearance of the small branches(r = 0,73; P< 0,01) on this vein, The longer the finger pulse is, the appearance the small branches is, the more severe the disease is. There is no different clearly from the signs of the finger pulse between the left-hand and right-hand of the boys and girls(p< 0,05).

1.ĐẶT VẤN ĐỀ
Giảm tỷ lệ tử vong cho trẻ em dưới 5 tuổi là một vấn đề đang được quan tâm hiện nay[4]. Ở nước ta một trong 3 nguyên nhân chính gây tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi là nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính và 3/4 tử vong của nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính là do viêm phổi[6]. Lý do tỷ lệ tử vong trong viêm phổi cao vì một phần do bệnh tiến triển nhanh, một phần do việc phát hiện các dấu hiệu nặng để đưa trẻ đến bệnh viện chậm. Ở Hoa Kỳ và Canada, đã có một số nghiên cứu nhằm tìm ra những tiêu chuẩn tiên lượng bệnh viêm phổi để quyết định cho nhập viện chính xác hơn, với mục đích vừa giảm chi phí cho người bệnh, vừa giảm tải cho bệnh viện nhưng đồng thời cũng bảo đảm điều trị kịp thời, giảm tỷ lệ tử vong cho những bệnh nhân bệnh nặng[1].
Y học cổ truyền phương Đông từ xưa đã có một số phương pháp dùng trong việc thăm khám bệnh ở trẻ em như thiệt chẩn, diện chẩn, nhỉ chẩn, trong đó phổ biến nhất là phương pháp chẩn bệnh bằng nhìn hệ tĩnh mạch ngón tay trỏ[9], [11].
Hiện nay trong y học cổ truyền phương pháp này được dùng phổ biến với nhiều tên gọi khác nhau như: Phương pháp xem "chỉ văn", phương pháp xem dấu "hổ khẩu", phương pháp chẩn đoán bằng "lạc mạch vân tay ngón trỏ", phương pháp "bắt mạch ngón tay trỏ" .v.v. dùng cho trẻ em từ 3 tuổi trở xuống. Phương pháp này được áp dụng dựa trên nguyên tắc quan sát sự thay đổi về bộ vị (vị trí xuất hiện trên mỗi đốt ngón tay trỏ), sự thay đổi về màu sắc, về độ chìm nổi và về các hình dạng biểu hiện khác nhau của tĩnh mạch ngón tay trỏ để chẩn đoán cũng như tiên lượng được tiến triển của bệnh[3], [14], [15].
Theo y học hiện đại, vị trí giải phẫu của hệ tĩnh mạch ngón tay trỏ được dùng trong phương pháp này chính là tĩnh mạch lòng - ngón tay trỏ, tĩnh mạch này được nối với động mạch quay - ngón tay trỏ qua hệ lưới tĩnh mạch ngón tay[74]. Đã có những nghiên cứu công bố liên quan đến các khía cạnh khác nhau của phương pháp này nhưng chưa có một đề xuất tiêu chuẩn cụ thể cho một nhóm bệnh nào [10],[12],[16].
Từ những vấn đề nêu trên, chúng tôi thực hiện đề tài "Nghiên cứu giá trị của phương pháp nhìn hệ tĩnh mạch ngoại vi ngón tay trỏ của Y học cổ truyền để chẩn đoán mức độ nhiễm khuẩn hô hấp cấp ở trẻ em từ sơ sinh đến 3 tuổi" nhằm mục tiêu:
+ Xác định giá trị các tiêu chí của phương pháp này trong y học cổ truyền để ứng dụng chẩn đoán mức độ nhiễm khuẩn hô hấp cấp ở trẻ em từ sơ sinh đến 3 tuổi.

2.ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
2.1.Đối tượng nghiên cứu : Trẻ có độ tuổi từ sơ sinh đến 3 tuổi không phân biệt nam nữ gồm : * Nhóm trẻ khoẻ: Ở thời điểm khảo sát không có biểu hiện của một bệnh lý nào.
* Nhóm trẻ bệnh: Trẻ được chẩn đoán bệnh viêm phổi theo tiêu chuẩn phân loại của Tổ chức Y tế thế giới dùng trong chương trình nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính [10].
* Không chọn trẻ bị dị tật,thương tật, khuyết tật ở ngón tay hoặc viêm phổi có kèm bệnh lý khác, thí dụ : Bệnh tim mạch, hen, bệnh thần kinh.v.v..vào nhóm nghiên cứu
2.2. Cỡ mẫu : Cỡ mẫu được tính theo công thức của một thiết kế nghiên cứu ngang:
n = Z2/2 . p.(1- p) / c2
2.3. Phương pháp chọn mẫu : Chọn mẫu tầng theo tỷ lệ ở nhóm trẻ khỏe (khảo sát ở Trường Hoa Mai) và chọn mẫu thuận tiện theo phương pháp tích luỹ ở nhóm trẻ bệnh (khảo sát ở khoa Nhi Bệnh viện Trung ương Huế và phòng khám bệnh trẻ em 108 Chi Lăng Huế)
2.4. Loại nghiên cứu: Nghiên cứu quan sát mô tả, Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu ngang
2.5. Phương pháp tiến hành: Lập phiếu khảo sát, ghi nhận bệnh sử. Thăm khám lâm sàng và phân loại viêm phổi theo tiêu chuẩn phân loại của Tổ chức Y tế thế giới được dùng trong chương trình nhiễm khuẩn hô hấp cấp [2] gồm 4 mức độ: * Cảm, ho (bệnh thể nhẹ); * Viêm phổi (bệnh thể vừa); * Viêm phổi nặng (bệnh thể nặng); * Viêm phổi rất nặng (bệnh thể rất nặng).
2.5. Quan sát và ghi vào phiếu khảo sát các dấu hiệu hiện có của tĩnh mạch ngón tay trỏ.
2.6. Các tiêu chuẩn của Y học cổ truyền được sử dụng để đánh giá trong đề tài này:
1.Hình dạng: Hình dạng của lạc mạch ngón tay trỏ trong y học cổ truyền được xem như là một tiêu chuẩn để chẩn đoán và tiên lượng bệnh ở trẻ dưới 3 tuổi. Trong đề tài này, để dễ cho việc thống kê, đánh giá, từ một số hình dạng của tĩnh mạch ngón tay trỏ được các thầy thuốc y học cổ truyền giới thiệu chúng tôi thống nhất quy định cách ghi hình dạng như sau .

2.Vị trí ( là tận cùng độ dài của tĩnh mạch ngón tay trỏ)
Theo y học cổ truyền thì bộ vị trên ngón tay trỏ chỉ có 3 vị trí Phong quan(đốt 1), Khí
quan(đốt 2), Mệnh quan(đốt 3) theo nguyên tắc Phong:bệnh; Khí: nặng; Mệnh: nguy. Trong đề tài này để có thể đánh giá chính xác hơn chúng tôi chia bộ vị này ra làm 7 vị trí với những quy ước sau :

+ Vị trí 0 : dưới nếp ngang đốt 1 ngón trỏ.
+ Vị trí 1.1: 1/2 dưới của đốt 1 ngón trỏ.
+ Vị trí 1.2: 1/2 trên của đốt 1 ngón trỏ.
+ Vị trí 2.1: 1/2 dưới của đốt 2 ngón trỏ.
+ Vị trí 2.2: 1/2 trên của đốt 2 ngón trỏ.
+ Vị trí 3.1: 1/2 dưới của đốt 3 ngón trỏ.
+ Vị trí 3.2: 1/2 trên của đốt 3 ngón trỏ
3. Độ chìm nổi : Theo y học cổ truyền đây cũng là một dấu hiệu để đánh giá bệnh nặng nhẹ với nguyên tắc “bệnh nhẹ: nổi, bệnh nặng: chìm”. Mạch nổi: Khi ta cầm tay trẻ lên đúng vị trí là có thể quan sát thấy rõ ngay tĩnh mạch này mà không cần phải can thiệp gì thêm. Mạch chìm: Khi cầm tay trẻ lên ta chỉ thấy mờ nhạt không rõ đường nét và chỉ quan sát được rõ sau khi đã dùng ngón tay cái miết đẩy vài lần trên đường đi của tĩnh mạch theo hướng từ đốt 3 đến đốt 2 đến đốt 1 của ngón tay trỏ.
4.Màu sắc: Theo y học cổ truyền màu của tĩnh mạch ngón tay trỏ nhạt: bệnh nhẹ, màu đậm: bệnh nặng. Các màu thường ghi nhận được là: Màu hồng, đỏ, tím nhạt, xanh tím, tím đen.
5.Tay phải –tay trái: Trong y học cổ truyền luôn có chủ trương Nam xem tả, Nữ xem hữu mới có thể nhìn thấy tĩnh mạch ngón tay trỏ rõ ràng, trên cơ sở lý luận của luật âm dương cho rằng Nam thuộc dương, tay trái thuộc dương còn Nữ thuộc âm và tay phải thuộc âm.
2.7. Phương pháp xử lý số liệu thống kê :
- Xử lý số liệu theo phương pháp thống kê trên chương trình Epi.Info 6.0
- Tính tương quan theo phương pháp spearman[5], tính độ chính xác, độ nhạy, độ đặc hiệu v.v... dựa vào bảng 2x2 [8].

3.KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
3.1. Phân nhóm các đối tượng nghiên cứu theo mức độ bệnh

 n

Trẻ khoẻ 

Cảm ho 

Viêm phổi 

 Viêm phổi nặng

Viêm phổi rất nặng 

 Tổng

 Nam

77

40

37

26

9

189

 Nữ

69

27

20

18

5

139

 Tổng

146

67

57

44

14

328



Nhận xét:
+ Có 328 trẻ được khảo sát (189 trẻ nam, 139 trẻ nữ) gồm 146 trẻ khỏe, 182 trẻ bệnh từ mức độ nhẹ đến rất nặng. Độ tuổi chủ yếu đã khảo sát là 12 - 36 tháng (81%).
3.2. So sánh về hình dạng của tĩnh mạch ngón tay trỏ ở các đối tượng
 
  Biểu đồ 3.1. Tỷ lệ về hình dạng tĩnh mạch ngón tay trỏ ở các đối tượng


Nhận xét:
+ Hình dạng của tĩnh mạch ngón tay trỏ không giống nhau ở các nhóm. Ở nhóm bệnh nặng chủ yếu là đơn nhánh và đa nhánh. Sự phân nhánh có tỷ lệ tăng theo mức độ của bệnh ở các nhóm nghiên cứu, thí dụ đa nhánh ở trẻ viêm phổi, viêm phổi nặng, viêm phổi rất nặng lần lượt là 5,1%; 40,9%; 64,3%
+ Căn cứ kết quả trên để tính tương quan giữa mức độ phân nhánh với mức độ bệnh theo phương pháp Spearman, ta có r = 0,73 (n=30, p<0,01). Đây là một tương quan thuận chặt chẽ do vậy có thể nói bệnh càng nặng thì sự phân nhánh càng nhiều.

3.3. So sánh về vị trí của tĩnh mạch ngón tay trỏ ở các đối tượng
 
 Biểu đồ 3.2 So sánh vị trí xuất hiện của tĩnh mạch
ngón tay trỏ ở các đối tượng nghiên cứu

Nhận xét:
+ Độ dài của tĩnh mạch ngón tay trỏ ở các vị trí có khác nhau ở các nhóm trẻ khỏe và trẻ bệnh. Nhóm trẻ khỏe có độ dài chủ yếu ở vị trí 0 và vị trí 1.1, còn trẻ bệnh có độ dài từ vị trí 1.2 đến vị trí 3.1
+ Độ dài của tĩnh mạch ngón tay trỏ thay đổi theo theo mức độ bệnh với độ tương quan r = 0,77 (n=30, p < 0,01), như vậy bệnh càng nặng thì tĩnh mạch ngón tay trỏ càng dài.
+ Từ biểu đồ 3.2 cho thấy trẻ viêm phổi nặng và rất nặng có vị trí 2.2 và 3.1 lần lượt là (65,9%&27,3%; 14,3%&85,7%). Kết quả này tương đối phù hợp với kết quả đã công bố của một số tác giả [10],[12].
+ Nếu chọn vị trí 2.2 của tĩnh mạch nhón tay trỏ để làm dấu hiệu tiên lượng bệnh nặng ta có: Độ nhạy = 96%; Độ đặc hiệu = 68%; Giá trị dự báo dương tính = 91%

3.4. So sánh màu sắc của tĩnh mạch ngón tay trỏ ở các đối tượng nghiên cứu
 
 Biểu đồ 3.3. So sánh màu sắc tĩnh mạch ngón tay trỏ ở các đối tượng nghiên cứu


Nhận xét:
+ Màu sắc của tĩnh mạch ngón tay trỏ quan sát được gồm màu hồng, đỏ, tím nhạt, xanh tím và tím đen. Màu sắc thay đổi theo mức độ bệnh. Bệnh càng nặng màu càng đậm.
+ Nếu chọn dấu chứng màu đậm (Tím đen, xanh tím làm tiêu chuẩn để hổ trợ trong tiên lượng bệnh nặng, nhẹ, ta tính được các giá trị của tiêu chuẩn lựa chọn này với kết quả sau: Độ nhạy = 100%; Độ đặc hiệu = 70%; Giá trị dự báo dương tính = 60%

3.5. So sánh về độ chìm nổi của tĩnh mạch ngón tay trỏ ở các đối tượng
 
 Biểu đồ 3.4. Tỷ lệ mạch chìm nổi theo nhóm đối tượng nghiên cứu


Nhận xét:
+ Ở nhóm trẻ khỏe và trẻ bệnh nhẹ chủ yếu là mạch nổi (93,1% & 94%).
+ Ở nhóm trẻ bệnh tỷ lệ giữa mạch nổi và chìm gần như tương đương nhau.
+ Theo y học cổ truyền bệnh nặng mạch chìm, bệnh nhẹ mạch nổi. Nếu sử dụng tiêu chuẩn mạch chìm của tĩnh mạch ngón tay trỏ làm một dấu chứng hổ trợ trong tiên lượng bệnh viêm phổi nặng, các giá trị của tiêu chuẩn lựa chọn này như sau:
Độ nhạy = 58%; Độ đặc hiệu = 50%; Giá trị dự báo dương tính = 52%

3.9. Đối chiếu kết quả giữa tay trái và tay phải ở Nam và Nữ
 
 Biểu đồ 3.5. So sánh tay trái và tay phải ở trẻ Nam và Nữ


Nhận xét:
+ Hình dạng và vị trí độ dài của của tỉnh mạch ngón tay trỏ giống nhau ở 2 tay trái và phải của trẻ nam là 95,7%, ở trẻ nữ là 96,6%.
+ Sự khác nhau giữa tay trái và tay phải ở Nam và Nữ chỉ chiếm một tỷ lệ thấp (nam:4,3%; nữ:3,4%). Sự khác nhau không có ý nghĩa thống kê (p<0,05).

KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu về hệ tĩnh mạch ngoại vi ngón tay trỏ ở 328 trẻ gồm 146 trẻ khoẻ và 189 trẻ bệnh chúng tôi có những kết luận sau:
+ Về hình dạng: Ở nhóm trẻ khỏe 73,3% không phân nhánh, ở nhóm trẻ bệnh 61,2% đến 100% là đơn nhánh và đa nhánh (tùy mức độ bệnh). Có sự tương quan thuận chặt chẽ giữa sự phân nhánh của tĩnh mạch ngón tay trỏ với mức độ nặng nhẹ của bệnh (r =0.73, n=30, p<0,01).
+ Về vị trí: Ở trẻ khoẻ 94,5% ở đốt 1 và dưới đốt 1. Bệnh nhẹ 82,1% ở vị trí 1/2 dưới của đốt 2 ngón tay trỏ. Bệnh nặng chủ yếu ở từ vị trí từ 1/2 trên của đốt 2 ngón tay trỏ trở lên (70% - 100%). Có sự tương quan thuận chặt chẽ giữa mức độ bệnh với độ dài của hệ tĩnh mạch ngón tay trỏ (r =0.77, n=30, p< 0,01).
+ Về độ chìm nổi: Ở trẻ khoẻ và bệnh nhẹ chủ yếu là mạch nổi (93,1% & 94%) Ở trẻ bệnh nặng không có sự khác biệt rõ về tỷ lệ xuất hiện của mạch nổi hay chìm.
+ Về màu sắc: Ở trẻ khoẻ 98,6% là màu nhạt (hồng, tím nhạt). Ở trẻ bệnh nhẹ 91% là màu tím nhạt. Bệnh nặng chủ yếu màu đậm(100% xanh tím, tím đen).
+ Về tay phải-tay trái: Tĩnh mạch ngón tay trỏ ở tay phải và tay trái của nam và nữ khác nhau chiếm tỷ lệ thấp (4,3% ở nam và 3,4% ở nữ) và không có ý nghĩa thống kê (p< 0,05).

Tài liệu tham khảo chính

1. Bùi An Bình (2002), “Nhiễm Khuẩn Hô Hấp Cấp Tính”, Giáo trình nhi khoa, Bộ môn nhi Trường Đại học Y Dược Huế.
2. Lê thị Cúc (2004), “ Đánh giá, phân loại và xử trí nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính”, Giáo trình nhi khoa. Bộ môn nhi. Trường Đại học Y Dược Huế.
3. Bành thanh Hoa, Chu văn Phong(2000), Chẩn bệnh qua tướng mạo, Nhà xuất bản Mũi Cà mau, tr 671-694. Người dịch: Nguyễn văn Đức, Nguyễn Kin Oanh và Ngô quang Thái.
4. Nghị quyết 37/CP ngày 20/6/1996 của thủ tướng chính phủ: “Các chỉ tiêu cơ bản về sức khoẻ trẻ em năm 2000 - 2020”.
5. Nguyễn xuân Phách (1995), Thống kê Y học, Nhà xuất bản Y học, Thành phố Hồ chí Minh.
6. Trần Quỵ (2000), Bài giảng nhi khoa Tập 1, Bộ môn nhi, Trường Đại học Y Dược Hà nội, Nhà xuất bản y học, Hà nội, tr 274 - 329.
7. Nguyễn Quang Quyền (1990), Bài giãng Gíải phẫu học, Tập I, Nhà xuất bản Y học, Hà nội.
8. Dương Đình Thiện (1997), Dich tễ học Lâm sàng, tập 1, Nhà xuất bản Y học Hà Nội.
9. Trần Thuý - Nguyễn Nhược Kim - Đặng Minh Hằng (2006), giáo trình Nhi khoa y học cổ truyền, Trường Đại học Y Dược Hà nội - Khoa Y học cổ truyền, Nhà xuất bản Y học, Hà nội, tr 18 - 22.
10. Nguyễn Văn Tiệp-Nguyễn Khắc Hữu(1968), Hổ khẩu, một dấu hiệu tiên lượng bệnh ở trẻ em, Tạp chí Y học Thực hành, số 153, P21-23,1968.
11. Lê Hữu Trác (1987), Hải Thượng Y tông tâm lĩnh quyển thứ 29 (Ấu ấu tu tri/ Kim Mộc), Nhà xuất bản Y học, Hà nội. Lương Trung Hoa (dịch)
12. Phan Tiên Thái (1972). Hou keou, a prognostic sign in children. Thesis for the Doctorate degree in medicin. Faculty of Medicin, University of Hue.
13. WHO/ARI/90/5, Pneumonia case detection by clinical signs and symtoms. Acute respiratory infection in children: Case management in small hospitals in developping countries - A manual for doctor and other Senior Heath Workers, Annex 1: 58 - 59.








 

 In ấn 
Các bài viết khác
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Tình hình thiếu máu ở học sinh tiểu học tại hai xã miền núi huyện Nam Đông tỉnh Thừa Thiên Huế - 03/04/2008 08:58:56
Tình hình thiếu máu ở học sinh tiểu học tại hai xã miền núi huyện Nam Đông tỉnh Thừa Thiên Huế - 03/04/2008 08:58:44
Đánh giá kết quả bước đầu điều trị vỡ xương bánh chè nhiều mảnh - 03/04/2008 07:55:19
Phân tích đường biểu diễn R.O.C trong nghiên cứu y học - 01/04/2008 11:02:10
nghiên cứu chức năng thất trái bằng siêu âm và doppler tim trên bệnh nhân thiếu máu mạn tính - 31/03/2008 22:32:19
Tác dụng hạ cholesterol trong huyết thanh thỏ của dịch chiết từ thân rễ ráy - 31/03/2008 15:47:54
Nghiên cứu bước đầu bệnh rối loạn chuyển hóa bẩm sinh giai đoạn sơ sinh sớm tại khoa Nhi Bệnh viện Trường ĐH Y Dược Huế - 14/03/2008 14:24:33
Nghiên cứu bệnh nguyên và một số kỹ thuật chẩn đoán bệnh nấm móng ở một số phường thành phố Huế - 12/03/2008 21:22:16
Phù mạch (Angioedema), một bệnh khá phổ biến nhưng ít được quan tâm - 12/03/2008 21:21:45
Thiết kế và tiến hành nghiên cứu lâm sàng - 12/03/2008 21:20:28
Xem tất cả
 
 
 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

Địa chỉ: 06 Ngô Quyền - Tp Huế - Email: hcmp@huemed-univ.edu.vn
Điện thoại: 84.54.3822173 - 84.54.3822873 - Fax: 84.54.3826269
Bản quyền © 2006 thuộc trường Đại học Y Dược Huế 
http://www.huemed-univ.edu.vn